Nhôm Kính Tiến Cường đo và gia công phòng tắm kính theo mặt bằng hoàn thiện tại TP.HCM. Kích thước phù hợp không chỉ là chiều rộng và chiều cao của cabin; còn gồm lối vào, khoảng mở cánh, vị trí phụ kiện, độ dốc sàn và khoảng cách tới thiết bị vệ sinh.

Không có một bộ số đo áp dụng cho mọi phòng. Kích thước thường được tham khảo theo vóc dáng người dùng và mặt bằng, sau đó điều chỉnh theo tường, sàn, lavabo, bồn cầu, cửa sổ và hướng vòi sen. Tường xây và lớp ốp có thể sai lệch nên kính phải được đặt theo số đo thực tế chứ không chỉ dựa vào bản vẽ.
Khoang quá nhỏ gây khó xoay người và vệ sinh; khoang quá lớn có thể chiếm lối đi hoặc làm tăng kích thước tấm kính, tải trọng cánh và yêu cầu thanh giằng. Trang phòng tắm kính trình bày các phương án tổng quát để đối chiếu trước khi chốt số đo.
Mỗi chiều nên đo ở nhiều điểm. Nếu hai tường không song song, số đo trên, giữa và dưới sẽ khác nhau; bản vẽ gia công cần thể hiện sai lệch này.
Các khoảng dưới đây dùng để hình dung ban đầu, không thay thế bản đo thi công. Số đo cuối cùng phải căn theo người sử dụng, quy cách cửa và hiện trạng hoàn thiện.
| Hạng mục | Khoảng thường được cân nhắc | Điều kiện cần kiểm tra |
| Bề rộng khoang tắm | Khoảng 800–1.000 mm hoặc điều chỉnh theo người dùng | Khả năng xoay người, vị trí sen và lối vào |
| Chiều sâu khoang | Khoảng 800–1.200 mm tùy mặt bằng | Khoảng đứng tắm, độ dốc và phễu thoát |
| Chiều cao kính | Thường khoảng 1.800–2.000 mm | Điểm neo, thông gió, trần và vận chuyển |
| Lối vào thông thủy | Tính theo nhu cầu đi lại thực tế | Người lớn tuổi, trẻ nhỏ và thiết bị hỗ trợ |
| Khoảng quét cửa | Bằng bề rộng cánh mở tại cung quay | Không va lavabo, bồn cầu, tường hoặc cửa phòng |

Đo hai cạnh tại nhiều cao độ, kiểm tra độ vuông của góc và vị trí giao giữa hai tấm kính. Nếu một cạnh là cửa, cần cộng điều kiện mở và điểm đặt thanh giằng.
Ngoài chiều dài từng cạnh, phải đo góc thực tế. Không nên mặc định tường đúng 135 độ vì lớp ốp và sai số xây dựng có thể làm thay đổi vị trí liên kết.
Đo chiều dài toàn tuyến, vị trí cửa, vách cố định và điểm neo hai đầu. Tấm kính rộng cần được kiểm tra độ võng, thanh giằng và khả năng vận chuyển.

Cần xác định bề rộng cánh, khe kỹ thuật, trục bản lề và bán kính quét. Cánh quá rộng làm tăng tải lên bản lề; cánh quá hẹp gây bất tiện khi ra vào. Hướng mở phải tránh thiết bị và không tạo điểm kẹt ở lối đi. Xem thêm cấu tạo tại cửa kính phòng tắm.
Bề rộng thông thủy không bằng toàn bộ mặt tiền vì còn phần vách cố định, cánh chồng và vùng cánh chạy. Chiều dài ray, điểm dừng, tay nắm và dẫn hướng đáy phải được tính trên cùng bản vẽ. Với mặt bằng hẹp, tham khảo phòng tắm kính cửa lùa.

Chiều cao được chọn theo khả năng chắn nước, thông gió và tỷ lệ không gian. Trần thấp, quạt thông gió, đèn hoặc đường ống nổi có thể giới hạn chiều cao. Tấm kính cao và rộng hơn làm tăng trọng lượng, vì vậy điểm neo và thanh giằng cần được tính theo kết cấu thực tế.
Thanh giằng không nên đặt chỉ theo thẩm mỹ. Vị trí phải giúp ổn định vách, không vướng đầu người và có nền tường đủ khả năng liên kết. Nếu tường rỗng hoặc có đường ống âm, cần đổi vị trí hoặc có giải pháp gia cố trước khi khoan.
Sau khi kính đã cường lực, không thể cắt ngắn hoặc khoan thêm tại công trình. Vì vậy, mọi thay đổi về phụ kiện phải được thực hiện trước giai đoạn gia công.
Để buổi đo diễn ra nhanh và đủ thông tin, phần lát sàn, ốp tường và gờ đá nên hoàn thiện. Lavabo, bồn cầu, vòi sen hoặc ít nhất vị trí chờ của thiết bị cần được xác định. Nếu công trình thuộc chung cư, khách hàng nên thông báo giờ được phép vận chuyển kính, kích thước thang máy và yêu cầu bảo vệ hành lang.
Ảnh chụp toàn cảnh từ cửa phòng, ảnh hai bên tường dự kiến lắp kính và vị trí thoát sàn giúp chuẩn bị phương án trước khi đến. Khi khảo sát, kỹ thuật viên đối chiếu ảnh với số đo, kiểm tra bề mặt neo và trao đổi trực tiếp về hướng mở, mức riêng tư, màu phụ kiện và cách vệ sinh.
Phiếu đo nên ghi ngày khảo sát, địa chỉ công trình, chiều nhìn của bản vẽ, kích thước từng cạnh, cao độ kính, hướng mở hoặc trượt và vị trí thiết bị gần cửa. Các điểm tường nghiêng, sàn dốc hoặc đường ống cần được chú thích thay vì chỉ ghi một con số tổng.
Báo giá sau đó phải khớp với bản đo về số tấm kính, độ dày, số lỗ gia công và bộ phụ kiện. Nếu mặt bằng thay đổi sau khảo sát, cần đo lại trước khi đặt kính. Cách làm này hạn chế việc cắt sửa không thể thực hiện trên kính đã cường lực và giúp xác định rõ phần việc của đơn vị kính với phần xây dựng.
Số đo người dùng gửi qua ảnh phù hợp để dự toán, nhưng không nên dùng trực tiếp để đặt kính. Khảo sát tại chỗ giúp đối chiếu thước, cao độ, độ nghiêng và điều kiện lắp.
Gia đình có người lớn tuổi nên ưu tiên lối vào dễ tiếp cận, giảm bậc vướng chân và bố trí tay nắm vừa tầm. Nếu cần ghế tắm hoặc người hỗ trợ, khoang phải đủ không gian thao tác. Nhà có trẻ nhỏ cần kiểm tra điểm đóng cửa, tay nắm và khoảng quan sát.
Với vách cố định dạng mở, kích thước tấm phải đủ giảm nước bắn nhưng vẫn giữ lối đi thuận tiện. phương án này được trình bày riêng tại vách kính nhà tắm.
Khi lắp xong, cần kiểm tra khe hở quanh cánh, bề rộng lối vào, khoảng cách mép kính với nền và thiết bị. Cửa mở không va chạm trong toàn bộ hành trình; cửa lùa dừng đúng vị trí và tay nắm không cọ vào vách. Gioăng phải nằm đúng mép, không bị ép gập vì sai kích thước.
Thử nước để xem hướng bắn và thoát sàn, đồng thời kiểm tra người dùng có đứng, xoay và ra vào thuận tiện hay không. Số đo đúng không chỉ giúp kính lắp vừa mà còn phải tạo được không gian sử dụng hợp lý.
Đây là kích thước nhỏ thường được cân nhắc cho mặt bằng hạn chế, nhưng cần thử khoảng xoay người, vị trí sen và lối vào. Không nên chọn chỉ vì vừa diện tích.
Không. Chiều cao được điều chỉnh theo tỷ lệ phòng, khả năng chắn nước, thông gió, điểm neo và đường vận chuyển kính.
Có thể đo để dự toán và chuẩn bị phương án. Số đo đặt kính nên lấy sau khi bề mặt ảnh hưởng đến kích thước đã hoàn thiện.
Vì tường có thể nghiêng hoặc không song song. Ba số đo giúp kỹ thuật viên nhận biết sai lệch và bố trí khe lắp phù hợp.
Chỉ thực hiện được nếu phụ kiện mới dùng cùng vị trí lỗ và thông số kính. Nếu khác, có thể phải gia công lại tấm kính mới.
Diện tích và độ dày kính ảnh hưởng trực tiếp, nhưng giá còn phụ thuộc số lỗ khoan, số cánh, bộ phụ kiện, đường vận chuyển và độ khó lắp đặt.
Tác giả: Tiến Cường