Cửa nhôm Xingfa được nhiều khách tại TP.HCM chọn khi cần làm cửa đi hoặc cửa sổ theo kích thước ô chờ. Trên trang này, Tiến Cường tập trung tư vấn hệ 55 cho cửa mở quay và hệ 93 cho cửa trượt lùa, cùng kính, phụ kiện, cách chia cánh và điều kiện lắp đặt thực tế.
Nếu cần xem nhóm vật liệu và kiểu cửa rộng hơn, có thể xem thêm cửa nhôm kính. Khi báo giá tại TP.HCM, cần có kích thước, kiểu cửa và điều kiện lắp đặt thực tế.
Hệ 55 thường được khách hỏi khi làm nhóm cửa mở quay. Tùy thiết kế thực tế, cửa đi hoặc cửa sổ có thể bố trí một cánh, hai cánh hoặc chia nhiều cánh. Công trình cũng có thể dùng ô fix khi cần lấy sáng hoặc chia ô cửa.
Trước khi chốt cách chia cánh, cần đo kích thước ô chờ và xem hướng mở có vướng lối đi, nội thất hay lan can hay không. Với cửa phòng ngủ, ban công, nhà phố, căn hộ, biệt thự, văn phòng hoặc trường học, kính và phụ kiện cần được xác định cùng bộ cửa khi báo giá.

Hệ 93 thường được khách tìm cho nhóm cửa trượt hoặc cửa lùa. Cánh cửa di chuyển trên ray nên không chiếm vùng quét như cửa mở quay. Cửa có thể chia hai cánh, ba cánh hoặc bốn cánh tùy ô cửa và nhu cầu sử dụng. Phần cố định hoặc ô fix cũng cần tính cùng thiết kế.
Khi đo cửa lùa, cần quan tâm chiều rộng, chiều cao ô chờ và cách chia cánh. Ray, bánh xe, khóa, kính và việc căn chỉnh cánh ảnh hưởng trực tiếp đến bộ cửa sau khi lắp xong.

| Hạng mục | Hệ 55 | Hệ 93 |
| Kiểu mở trọng tâm | Mở quay | Trượt hoặc lùa |
| Cách sử dụng | Cần xem hướng mở và vùng mở cánh | Cánh chạy trên ray, không chiếm vùng quét |
| Số cánh thường cân nhắc | 1 hoặc 2 cánh, có thể chia thêm theo ô cửa | 2, 3 hoặc 4 cánh tùy cách chia ô |
| Cần đo trước khi làm | Ô chờ, hướng mở, lối đi và vị trí nội thất | Ô chờ, cách chia cánh và phần ray |
| Cần chốt khi báo giá | Kính, phụ kiện, số cánh và gia công | Ray, bánh xe, khóa, kính, số cánh và gia công |
Tên hệ không thay cho việc xem bản vẽ và đo thực tế. Cách mở, loại kính, phụ kiện và hiện trạng ô chờ mới quyết định bộ cửa phù hợp.


Cửa đi một cánh thường được cân nhắc cho lối đi đơn hoặc ô cửa gọn. Cửa hai cánh hay nhiều cánh được chọn theo chiều rộng ô chờ, vị trí cửa chính, cửa phụ hoặc ban công và cách sử dụng hằng ngày. Có thể chọn mở quay hoặc trượt lùa sau khi xem lối đi, vùng mở cánh và cách bố trí công trình.

Cửa sổ mở quay, mở hất và trượt lùa khác nhau ở khoảng mở, vị trí rèm, hướng mưa, thông gió, diện tích bên ngoài cửa và việc vệ sinh. Kiểu phù hợp cần được chọn theo vị trí lắp thay vì chỉ theo mẫu ảnh.

Cửa sổ mở hất là kiểu khách thường cân nhắc khi muốn thông gió mà không mở toàn bộ cánh. Cần xem vị trí lắp, hướng mưa và khoảng mở thực tế trước khi chốt cách làm.

Với ô cửa rộng, khách đôi khi cân nhắc dạng xếp trượt. Kiểu này cần xác định đúng bộ profile và phụ kiện trước khi báo giá, không nên mặc định dùng cùng bộ hệ 55 hoặc 93.
Số cánh không nên chọn chỉ theo mẫu ảnh. Cửa một cánh thường được cân nhắc cho ô cửa gọn hoặc lối đi đơn. Cửa hai cánh phù hợp với nhiều cửa đi hoặc cửa sổ tùy kiểu mở. Ba hoặc bốn cánh thường được cân nhắc khi ô cửa rộng hơn hoặc cần chia cánh để sử dụng thuận tay.
Khi chọn số cánh cần xem chiều rộng ô chờ, vị trí cửa, kiểu mở quay hay trượt, lối đi cần dùng, cách bố trí nội thất và phần kính cố định nếu có.

Cửa mở quay cần tính vùng mở của cánh và xem hướng mở trước khi gia công. Cửa trượt lùa có cánh chạy trên ray, không chiếm vùng quét như cửa mở quay. Với cửa lùa, cần chốt kỹ ray, bánh xe, khóa và việc căn chỉnh cánh. Không có một kiểu mở phù hợp cho mọi vị trí, lựa chọn nên dựa trên ô cửa và cách sử dụng thực tế.

Cửa chính hoặc mặt tiền: cần xem kích thước ô cửa, cách chia cánh, lối đi, mặt tiền và loại kính.
Phòng ngủ: cần xem hướng mở, mức riêng tư, ánh sáng, loại kính và khóa.
Ban công hoặc logia: cần xem khoảng mở, lan can, hướng mưa và chọn mở quay hay trượt theo hiện trạng.
Nhà vệ sinh hoặc toilet: cần quan tâm riêng tư, môi trường ẩm, thông gió, loại kính hoặc bề mặt kính phù hợp, hướng mở và diện tích nhỏ.
Căn hộ: cần xem không gian mở cánh, việc vận chuyển bộ cửa và quy định công trình nếu có.

Nhà phố hoặc biệt thự: cần xem kích thước ô cửa, chia cánh, mặt tiền, kính và kiểu mở.

Văn phòng hoặc trường học: cần xem tần suất đóng mở, lối đi, kính, an toàn, phụ kiện và nhu cầu bảo trì.

Loại kính cần được chọn theo kích thước ô, vị trí cửa, tải cánh, nẹp, gioăng, phụ kiện và yêu cầu an toàn hoặc riêng tư. Kính cường lực, kính dán an toàn, kính hộp, kính mờ hoặc loại kính tạo riêng tư có thể được cân nhắc theo nhu cầu thực tế. Không phải mọi bộ cửa đều dùng cùng một loại kính.

Với cửa mở quay, bản lề, khóa, tay nắm và các chi tiết truyền động nếu bộ cửa sử dụng cần được chốt theo cánh cửa. Với cửa trượt lùa, ray, bánh xe, khóa và chi tiết chống nhấc nếu thiết kế có cần được xác định trước khi báo giá. Phụ kiện phải được chốt theo bộ cửa thực tế.

Trắng, xám hoặc ghi, đen, vân gỗ và nâu hoặc cafe là những màu khách thường hỏi khi chọn cửa nhôm. Màu nên được xem cùng mặt tiền, tường, nội thất và kính; một số bề mặt có thể cho cảm nhận khác về bụi hoặc vết bẩn. Màu thanh nhôm cần được xác nhận theo vật tư tại thời điểm đặt làm.

Khi khách yêu cầu nhôm Xingfa Quảng Đông, nhập khẩu hoặc chính hãng, nên xác nhận tên dòng thanh, hệ profile, nguồn cung, thông tin lô hàng, mặt cắt, màu và chứng từ nếu bên bán đưa ra claim xuất xứ. Tên gọi thị trường, tem hoặc quảng cáo không nên thay cho việc đối chiếu vật tư thực tế của bộ cửa.
Không nên chốt giá một bộ cửa chỉ từ diện tích m² khi chưa xác định kiểu cửa, kính và phụ kiện. Báo giá theo m² chỉ có ý nghĩa khi các hạng mục trong bộ cửa được chốt cùng một phạm vi công việc.
| Hạng mục | Vì sao ảnh hưởng đến giá |
| Hệ cửa | Cách mở và mặt cắt dùng cho bộ cửa cần được xác định trước. |
| Kiểu mở | Mở quay, mở hất và trượt lùa có cách gia công, phụ kiện và lắp đặt khác nhau. |
| Số cánh | Số lượng cánh và cách chia ô thay đổi khối lượng gia công. |
| Kích thước | Kích thước ô chờ và phần ô fix ảnh hưởng cách chia cửa. |
| Kính | Loại kính chọn theo vị trí cửa, kích thước và nhu cầu sử dụng. |
| Phụ kiện | Bản lề, ray, bánh xe và khóa phải đi cùng kiểu mở. |
| Màu | Màu và hoàn thiện cần xác nhận tại thời điểm đặt làm. |
| Lắp đặt | Hiện trạng, vận chuyển và điều kiện thi công có thể ảnh hưởng báo giá. |

Khi so hai báo giá, cần đặt cùng phạm vi vật tư và công việc. Không nên so giá chỉ bằng đơn giá m² khi hai bộ cửa khác nhau về kính, phụ kiện, số cánh hoặc phạm vi lắp đặt.

Khách có thể gửi chiều rộng và chiều cao ô cửa, số lượng cửa, cửa đi hay cửa sổ, kiểu mở quay, mở hất hoặc trượt lùa, số cánh dự kiến, loại kính nếu đã chọn, màu mong muốn, ảnh hiện trạng và địa điểm công trình. Nếu chưa đo chính xác, có thể cần đo thực tế trước khi chốt gia công.
Gửi kích thước ô cửa hoặc ảnh hiện trạng để Tiến Cường kiểm tra kiểu cửa phù hợp và báo giá theo bộ cửa thực tế.




Khi báo giá tại TP.HCM, cần có kích thước, kiểu mở, số cánh, hệ 55 hoặc 93 theo kiểu cửa, kính, màu, phụ kiện, địa điểm và điều kiện thi công thực tế. Việc này giúp chốt phương án cửa và khâu gia công trước khi lắp đặt.

Hệ 55 thường được hỏi cho nhóm cửa mở quay, còn hệ 93 thường được hỏi cho nhóm cửa trượt lùa. Cần đối chiếu cách mở và ô chờ thực tế trước khi chọn.
Cửa đi cần xem lối đi, số cánh và cách mở. Cửa sổ cần xem khoảng mở, vị trí rèm, hướng mưa, thông gió và việc vệ sinh.
Mở hất là kiểu cửa sổ khách thường cân nhắc khi muốn thông gió mà không mở toàn bộ cánh. Cần xem vị trí lắp, hướng mưa và khoảng mở thực tế.
Có thể cân nhắc số cánh theo chiều rộng ô chờ, vị trí cửa, cách mở và lối đi cần sử dụng. Cách chia cánh được chốt sau khi đo thực tế.
Mở quay cần vùng mở cánh. Trượt lùa không chiếm vùng quét nhưng cần chốt ray, bánh xe, khóa và cách căn chỉnh. Kiểu phù hợp phụ thuộc ô cửa và cách dùng.
Không thể chốt chính xác chỉ từ diện tích khi chưa có kiểu cửa, kính, phụ kiện, số cánh và điều kiện lắp đặt. Báo giá cần dựa trên bộ cửa thực tế.
Có thể dùng khi vị trí cửa, kích thước và nhu cầu sử dụng phù hợp. Loại kính cần được xác định trước khi gia công.
Kính mờ hoặc loại kính tạo riêng tư có thể được cân nhắc theo vị trí cửa và nhu cầu sử dụng. Cần chốt loại kính cùng bộ cửa trước khi gia công.
Gửi kích thước ô cửa, số lượng, kiểu mở, số cánh, kính nếu đã chọn, màu, ảnh hiện trạng và địa điểm công trình để kiểm tra trước khi báo giá.